Tin tức
Fed bước vào chu kỳ tăng lãi suất, thị trường châu Á đối mặt cuộc phân hóa lớn
Chu kỳ thắt chặt tiền tệ mới của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang tạo thêm sức ép lên thị trường châu Á thông qua dòng vốn rút ra, đồng nội tệ suy yếu và lạm phát nhập khẩu. Tuy nhiên, tác động sẽ phân hóa mạnh: các nền kinh tế thâm hụt tài khoản vãng lai và doanh nghiệp vay nợ cao chịu nhiều sức ép hơn.
28 tháng 9, 2026 - 5 phút đọc - Admin

Chủ tịch Fed Kevin Warsh ngày 16/9 thông báo tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, đồng thời phát tín hiệu có thể tiếp tục nâng lãi suất để kiểm soát lạm phát đã vượt mục tiêu 2% hơn 5 năm. Biểu đồ “dot plot” của Fed cho thấy có thể còn một lần tăng lãi suất trong năm nay, trong khi thị trường kỳ vọng tới 3 đợt tăng nữa từ nay đến giữa năm sau.
DÒNG VỐN RÚT KHỎI CHÂU Á LÊN MỨC KỶ LỤC
Lợi suất trái phiếu Mỹ cao hơn khiến tài sản bằng USD trở nên hấp dẫn, thúc đẩy dòng vốn rời khỏi các thị trường mới nổi châu Á. Với lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4-5%, dòng vốn ngoại rút ròng khỏi chứng khoán châu Á ước đạt mức kỷ lục 192 tỷ USD tính đến ngày 25/9, vượt xa đỉnh 45 tỷ USD của năm 2025.

Áp lực đặc biệt lớn với những nền kinh tế thâm hụt tài khoản vãng lai và phụ thuộc vào vốn nước ngoài để tài trợ thâm hụt thương mại. Đồng tiền của Ấn Độ, Indonesia và Philippines đã suy yếu đáng kể so với USD. Ngược lại, đồng tiền của những nền kinh tế thặng dư tài khoản vãng lai như Trung Quốc và Hàn Quốc lại tăng giá, dù còn chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác.
Nếu lãi suất Mỹ tiếp tục tăng, các đồng tiền thuộc nhóm nền kinh tế thâm hụt có nguy cơ chịu thêm áp lực giảm giá.
ĐỒNG TIỀN YẾU KHUẾCH ĐẠI LẠM PHÁT
Nội tệ mất giá khiến hàng nhập khẩu đắt hơn, trong khi nhiều nền kinh tế châu Á đồng thời phải đối mặt với cú sốc nguồn cung năng lượng toàn cầu và tác động của El Niño.
Tính đến cuối tháng 8, lạm phát tại Ấn Độ đạt 4,8%, Indonesia 3,2% và Philippines 6,1%. Các ngân hàng trung ương tại đây đã phải tăng lãi suất nhiều lần. Từ tháng 5, Bank Indonesia tăng lãi suất ba lần với tổng cộng 100 điểm cơ bản, trong khi ngân hàng trung ương Philippines tăng ba lần kể từ tháng 4, tổng cộng 75 điểm cơ bản.
Ngược lại, Trung Quốc, Đài Loan và Malaysia là những ngoại lệ đáng chú ý. Trung Quốc vẫn chịu ảnh hưởng của nhu cầu nội địa yếu, trong khi Đài Loan và Malaysia hưởng lợi từ tỷ giá tương đối ổn định và việc giảm thuế, khiến áp lực tăng lãi suất thấp hơn đáng kể.

ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN CHỊU SỨC ÉP
Lợi suất tăng cũng đang kéo giảm định giá cổ phiếu. Khi lợi suất 10 năm trung bình tại châu Á tăng từ 3,4% cuối tháng 10/2025 lên 4,2% cuối tháng 9, P/E dự phóng 12 tháng của FactSet Asia Market Index giảm từ 16,7 lần xuống 12,5 lần.
Cổ phiếu “duration dài”, nơi phần lớn giá trị phụ thuộc vào lợi nhuận trong tương lai xa, thường nhạy cảm nhất với chi phí vốn tăng. Công nghệ là ví dụ điển hình. Điều này góp phần khiến định giá tại Hàn Quốc và Đài Loan – hai thị trường tập trung nhiều tập đoàn công nghệ lớn như Samsung, SK Hynix và TSMC – giảm mạnh trong đợt tăng lợi suất gần đây.
Các ngành sử dụng đòn bẩy cao như bất động sản, tiện ích và tiêu dùng không thiết yếu cũng chịu sức ép từ chi phí tái cấp vốn và tín dụng hộ gia đình tăng. Philippines, Thái Lan và Trung Quốc là những thị trường có tỷ lệ nợ ròng trên vốn chủ sở hữu cao nhất, lần lượt đạt 118%, 105% và 86% trong năm 2025.

NGÂN HÀNG VÀ BẢO HIỂM CÓ THỂ HƯỞNG LỢI
Ở chiều ngược lại, ngân hàng và bảo hiểm thường hưởng lợi trong chu kỳ tăng lãi suất. Với ngân hàng, lãi suất cho vay thường tăng nhanh hơn lãi suất tiền gửi, giúp cải thiện biên lãi ròng. Trong chu kỳ 2022-2023, NIM trung bình của 10 ngân hàng lớn nhất Hong Kong đã tăng từ 1,41% lên 1,65%.
Các công ty bảo hiểm cũng có thể đầu tư dòng phí bảo hiểm mới vào trái phiếu có lợi suất ngày càng cao, hỗ trợ lợi nhuận.
Do đó, những thị trường có tỷ trọng tài chính lớn có thể được hỗ trợ tốt hơn, dẫn đầu là Singapore với 47% vốn hóa thị trường, tiếp theo là Hong Kong 32%, Malaysia 31% và Ấn Độ 26%.
Chu kỳ tăng lãi suất của Fed vì vậy có thể làm sâu sắc thêm sự phân hóa tại châu Á: một bên là những nền kinh tế có lạm phát thấp và nền tảng đối ngoại vững hơn, bên còn lại là các quốc gia chịu thâm hụt lớn, đồng tiền yếu và áp lực giá cả gia tăng.


